Trang chủ
Giới thiệu
Tin tức
Đối tác
Hệ thống phân phối
Liên hệ
Tuyển dụng
Dịch vụ
Bạn có 0 sản phảm trong giỏ hàng   Xem giỏ hàng
Mua hàng qua điện thoại: Mrs Mai :0963.366.6161/0983.255.311 or Mr.Minh: 0164.972.6669
Sự kiệnCẩm nang dượcKhuyến mại

Submit Thread to Facebook Submit Thread to Twitter Submit Thread to Google
Sen- Vị thuốc từ gốc tới ngọn

Sen có tên khoa học: Nehemhium nehimbo họ Sen Súng: Nelumbonaceal. Người Tày gọi nó là Liên, Ngậu; Người thái gọi là Bó Bua, còn người Dao gọi là Lìn, Ngó. Ở Việt Nam sen được trồng nhiều. Sen còn mọc ở các vùng khí hậu nóng ẩm nhiệt đới như Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaisia, Ấn Độ, một số vùng phía Nam Trung Quốc...

Sen có thể trồng bằng hạt hoặc ngó sen, nhưng nếu cắt hết lá sen trong vòng hai, ba năm liền thì củ sen ở dưới sẽ thối và chết hết. Mùa đông lá sen tàn, mùa hè thu lá lại mọc lên xanh tốt. Việt Nam là nước có lượng hạt sen lớn, một năm cót hể tới 1000 tấn cung cấp cho công nghiệp thực phẩm và dược phẩm.

Sen dùng làm thuốc từ gốc tới ngọn


Theo y học cổ truyền:

Hạt sen (liên nhục) có vị ngọt, tính bình vào 3 kinh tâm, tỳ, thận có tác dụng bổ tì, dưỡng tâm.

Lá sen (Liên diệp) có vị đắng,  tính mát, vào 3 kinh can, tì, vị có tác dụng thánh thủ, lợi thấp, tán ứ, chỉ huyết.

Hoa sen (Liên hoa, Hà Hoa) vị ngọt đắng, tính ấm có tác dụng an thần, cầm máu.

Tâm sen (Liên tử tâm) vị đắng tính lạnh vào kinh tâm có tác dụng thanh tâm, hạ nhiệt.

Tua sen (Liên tu) vị chát, tính ấm, có tác dụng cố tinh bổ thận, thanh tâm hoả, cầm máu.

Gương sen (Liên phòng) vị chát,, tính mát, có tác dụng cố sáp, cầm máu rất hay.

Ngó sen (liên ngấu) vị ngọt, tính mát, bổ âm, an thần.

Sử dụng sen làm thuốc:

Hạt sen: 4g, bạch truật sao vàng 12g, phục linh 6g, nhân sâm 4g (hoặc đẳng sâm 12 g). Trích cam thảo 3g, gừng nướng 3 lát, táo tàu 2 quả. Sắc uống hằng ngày. Chữa: Trẻ em tiêu hoá kém, buồn nôn, ỉa chảy hoặc ỉa phân sống, người gầy yếu hoặc phù thũng hoặc da bủng beo. Có thể dùng hạt sen rang thơm với gừng sao than (100 g hạt sen + 5g gừng sao toàn tính) tán nhỏ ăn ngày 10g cũng rất tốt.

Lá sen: Chữa đại tiểu tiện ra máu tươi, chảy máu chân răng, ho ra máu, hành kinh nhiều. Lấy 15 – 20g lá sen khô hoặc tán bột uống.Bài thuốc này còn có tác dụng chữa máu hôi ra mãi không hết ở sản phụ.

Lá sen tươi chứa lở sơn (dị ứng sơn). Cách dùng: Lá tươi ½ cái hoặc lá khô 12g/lần. Sắc uống nước hằng ngày. Còn có thể giã lá tươi lấy nước xoa vào chỗ dị ứng cũng  rất đỡ.

Tâm sen: Chữa người phiền nhiệt (nóng hâm hấp, bứt rứt khó chịu), tim hồi hộp, huyết áp tăng, mất ngủ... Ngày từ 2 – 4g hãm như trà uống thay nước.

Tua sen: Chữa các bệnh di mộng tinh, băng huyết, thổ huyết, đái són, bạch đới. Ngày từ 4  - 12g sắc uống. Người táo bón, tiểu tiện bí không được dùng.

Ngó sen: Trị ho ra mu, ho khan rát họng, đại tiểu tiện ra máu, băng huyết, nôn ra máu... Cách dùng: Lấy từ 20 – 30g ngó sen tươi, giã vắt lấy nước uống một vài lần là khỏi.

Một số bài thuốc từ sen

Viên sen vòng (có trên thị trường)

Cao khô từ lá sen: 0,05g (tương đương 1g lá khô, 10g lá tươi).

Cao khô từ lá vòng: 0,06g (tương đương 1g lá khô, 10g lá tươi).

Tác dụng: An thần, chữa mất ngủ nhẹ: Uống 1 – 2 viên vào buổi tối trước khi ngủ 20 phút.

Chè thuốc

Hạt sen (bổ tâm) 20g, sâm ngọc linh 5g, hoài sơn 12g. Nấu nhừ, cho đường phèn ăn hàng ngày, người đẹp, môi hồng, da mịn màng. Tinh thần nhẹ nhàng, ăn ngủ tốt. Người đường huyết cao không dùng.

Hạt sen (bổ tâm) 20g, long nhân 10g, táo tàu 8 quả. Nấu ăn vào buổi tối hằng ngày. Người gầy mòn, ăn ngủ kém dùng 1 đợt 10 ngày sẽ thấy cơ thể khoẻ mạnh, ngủ ngon, tinh thần sảng khoái.

Tâm sen 4g, hoe hoa 10g, cúc hoa 8g. Ba vị sao vàng, pha như pha trà uống hàng ngày rất tốt với người huyết áp cao, hay mờ mắt, đầu ong ong khó chịu.

Chữa sốt xuất huyết: Lá sen hoặc ngó sen, có nhọ nồi, rau má, bông mã đề, mỗi thứ một nắm sắc uống khi sốt cao. Nếu có các vị thuốc tươi nên xay uống rất tốt.Khi xuất huyết thêm than lá sen hay thang gương sen 5 – 10g/ngày cùng bài thuốc trên rất có kết quả.

Chữa tiểu đường: Ở người miệng khát, háo, người mỏi mệt. Tâm sen 8g, thạch cao sống 20g, các vị sa sâm, mạch môn, thiên môn, thạch học, hoài sơn sống, ý dĩ sống 12g sắc uống hàng ngày. Các triệu chứng lâm sàng giảm hẳn, chú ý kết hợp điều trị tây y đồng thời.

Chữa phụ nữ sau đẻ thiếu máu: Hạt sen, sa sâm, kỳ tử mỗi thứ 15g, long nhãn 12g, táo nhân sao 10g, tâm sen 6g, đàng tâm 8g sắc uống ngày 1 thang chỉ cần 10 – 15 thang là chuyển tốt.

Chữa dị mộng tinh: Hạt sen, củ súng mỗi thứ 20g, hoài sơn sao 15g, mẫu lệ, nong cốt nung 12g, kim anh (bỏ hạt) 10g táo nhân sao 12g sấy khô, tán bột làm viên ngày uống 10 – 20g. Lâm sàng cho thấy không những cơ thể hết dị mộng tinh mà số lượng và chất lượng tinh trùng đều tăng.

Thành phần hoá học

Hạt sen có tinh bột, prôtein 14,81% gồm nhiều acid amin cần thiết cho cơ thể. Ngoài ra, còn 2,11% dầu béo, mốt ố vitamin cần cho cơ thể. Trong tâm sen gương sen và lá sen có một s ố avcaloit có tác dụng ức chế thần kinh trung ương và chống co thắt cơ trơn. Đặc biệt trong ngó sen có chất Nucefirin có tác dụng an thần rất hiệu quả mà không gây độc.

Sen vừa gần gũi vừa là vị thuốc tốt cho mọi nhà

                                                                                                                                                   Theo sức khỏe đời sống

[Trở về] icon Các tin tức khác
icon logo Cẩm nang dược
Hỗ trợ trực tuyến Đăng ký nhận tin qua Email
Từ khóa Thống kê
68Trực tuyến
1,798,525 Lượt truy cập